Hỗ trợ trực tuyến

Liên kết website :
Số người truy cập: 188900
Đang online: 29
[ Đăng ngày: 11/05/2017 ]

Bài trích Tạp chí Dược liệu số 2 năm 2017/ tập 22

1. Flavonoid phân lập từ cây mễ tử liễu/ Trần Thanh Hà, Nguyễn Văn Đậu, Đỗ Thị Hà, Nguyễn Minh Khởi // Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 63-72.

10 flavonoid đã được phân lập từ phân đoạn chiết ethyl acetat và n-butanol cây mễ tử liễu (Polygonum plebeium R. Br.) thu hái ở Việt Nam bao gồm: chrysin (1), quercetin (2), quercetin 3-O-β-D-galactopyranosid (3), quercetin 3-O-β-D-arabinopyranosid (4), quercetin 3-O-b-D-glucopyranosid (5), vitexin (6), apigenin7-O-β-D-glucopyranosid (7), rutin (8), isorhamnetin 3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→2)-rutinosid (9), quercetin-3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)-β-D-glucopyranosyl-(1→3)-β-D-glucopyranosid (10). Cấu trúc hóa học của chúng được xác định dựa trên cơ sở các dữ kiện phổ thực nghiệm MS, NMR và các dữ kiện phổ NMR đã công bố. Trong số các hợp chất này, hợp chất 9 và 10 lần đầu tiên được phân lập từ chi Polygonum thể hiện khả năng chống oxy hóa quét gốc DPPH với giá trị EC50 là 50,40 và 45,92 µg/ml so với chất đối chứng quercetin (EC50=10,82 µg/ml).

Từ khóa: Polygonum, Polygonum plebeium, Rutin,  Isorhamnetin 3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→2)-rutinosid, Quercetin-3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)-β-D-glucopyranosyl-(1→3)-β-D-glucopyranosid.

2. Flavonoid phân lập từ cây tầm bóp/ Hoàng Thái Hòa, Nguyễn Thượng Dong, Trần Thị Oanh, Lê Việt Dũng, Huỳnh Đăng Khoa, Đào Thi Thanh Hiền// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 72-77.

Năm flavonoid (1 - 5) đã được phân lập từ phân đoạn ethyl acetat cây tầm bóp (Physalis angulata L.) thu hái ở huyện Gia Lâm, Hà Nội, Việt Nam. Cấu trúc hóa học của chúng được xác định gồm quercetin (1), quercetin 3-O-α-L-rhamnopyranosid (2), quercetin 3-O-β-D-glucopyranosid (3), myricetin 3-O-α-L-rhamnopyranosid (4) và quercetin 3-O-α-L-rhamnopyranosyl-(1→6)-β-D-glucopyranosid (5) dựa trên cơ sở các dữ liệu phổ thực nghiệm MS, NMR và so sánh với các dữ liệu phổ NMR đã công bố. Trong số các hợp chất trên, hợp chất 2 và 4 lần đầu tiên được công bố phân lập từ cây này.

Từ khóa: Cây tầm bóp, Physalis angulata L., Flavonoids.

3. Phân lập và định lượng đồng thời hai hợp chất diterpenoid chính trong dược liệu hy thiêm bằng HPLC/ Nguyễn Thị Phương, Vũ Văn Tuấn, Nguyễn Đình Quân, Phương Thiện Thương, Lê Văn Ninh, Lê Văn Mạnh, Ngô Thị Mai Anh// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 77-82.

Từ cắn chiết ethanol 96% dược liệu hy thiêm, 02 diterpenoid glycosid (1-2) đã được phân lập bằng các phương pháp sắc ký. Các hợp chất này được xác định là darutosid và 16-O-acetyldarutosid dựa trên dữ liệu phổ thực nghiệm và so sánh với dữ liệu phổ đã được công bố. Phương pháp định lượng đồng thời 02 hợp chất trên bằng HPLC-UV/VIS đã được xây dựng và thẩm định. Phương pháp sắc ký được thực hiện trên cột pha đảo VertisepTM UPS (4,6 x 250 mm, 5 µm), hệ dung môi acetonitril-nước rửa giải theo trương trình gradient, bước sóng phát hiện 210 nm. Khoảng tuyến tính của darutosid là 3,8-282 µg/ml (r=0,999) và 16-O-acetyldarutosid là 9,0-360 µg/ml (r=0,999). Phương pháp đã xây dựng đảm bảo yêu cầu về độ đúng và độ lặp lại. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) của hợp chất darutosid lần lượt là 1,0 µg/ml và 3,3 µg/ml; của hợp chất 16-O-acetyldarutosid lần lượt là 2,5 µg/ml và 8,3 µg/ml. Phương pháp này đã được áp dụng để xác định hàm lượng darutosid và 16-O-acetyldarutosid trong các mẫu dược liệu hy thiêm thu hái tại Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nội.

Từ khóa: Hy thiêm, HPLC, Darutosid, 16-O-Acetyldarutosid.

4. Xây dựng phương pháp định tính, định lượng luteolin trong vỏ quả của cây lạc bằng HPLC/ Lê Thị Thanh Thảo, Nguyễn Thị Thịnh, Lê Thị Loan, Trần Minh Ngọc// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 83-86.

Đã xây dựng và thẩm định được phương pháp định tính, định lượng luteolin trong vỏ lạc bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao sử dụng detector PDA đảm bảo tính đặc hiệu, tính thích hợp hệ thống, tương quan tuyến tính, độ đúng, độ chính xác với điều kiện sắc ký: Cột C18 (250 mm x 4,6 mm, 5 µm); tốc độ dòng 0,5 ml/phút; bước sóng phát hiện là 347 nm; pha động gồm acetonitril/acid phosphoric 0,1% theo chương trình gradient. Hàm lượng luteolin trong các mẫu vỏ lạc biến đổi trong khoảng 0,09 – 0,11%.

Từ khóa: Vỏ lạc, Flavonoid, Luteolin, HPLC.

5. Nghiên cứu tác dụng chống trầm cảm của l-tetrahydropalmatin trên mô hình stress nhẹ, kéo dài, không báo trước/ Phạm Đức Vịnh, Đặng Hoài Thu, Đào Thị Vui, Nguyễn Hoàng Anh, Đào Thị Kim Oanh // Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 86-93.

Nghiên cứu được thực hiện để đánh giá tác dụng chống trầm cảm của l-tetrahydropalmatin (l-THP) trên mô hình gây trầm cảm bằng chuỗi stress nhẹ, kéo dài, không báo trước. Từ kết quả của thử nghiệm thăm dò trên chuột nhắt không chịu stress, liều 0,2 mg/kg được lựa chọn cho nghiên cứu tác dụng của hoạt chất này trên mô hình động vật được gây trầm cảm thực nghiệm. Kết quả của thử nghiệm chính cho thấy chuỗi stress nhẹ, kéo dài, không báo trước đã gây ra một loạt những thay đổi hành vi liên quan đến trầm cảm, bao gồm giảm ưa thích dung dịch saccharose, giảm hành vi chải lông, tăng trạng thái bất động trên test treo đuôi và tăng vận động tự nhiên trên test môi trường mở. Ngoại trừ ảnh hưởng trên vận động tự nhiên, sử dụng l-THP liều 0,2 mg/kg hàng ngày, liên tục trong 3 tuần có tác dụng đảo ngược những thay đổi hành vi của chuột thí nghiệm gây ra bởi stress. Tác dụng này tương tự như thuốc chống trầm cảm ba vòng clomipramin. Đây có thể là nghiên cứu đầu tiên công bố tác dụng của l-THP trên một mô hình thực nghiệm đặc hiệu cho rối loạn trầm cảm và cơ chế liên quan đến tác dụng này của l-THP cần được làm sáng tỏ trong những nghiên cứu tiếp theo.

Từ khóa: l-Tetrahydropalmatin, Rối loạn trầm cảm, Chống trầm cảm, Stress nhẹ kéo dài.

6. Khảo sát tác dụng của bột chiết sâm Việt Nam trồng trên tổn thương oxy hóa tế bào não gây bởi stress cô lập/ Nguyễn Hoàng Minh, Nguyễn Thị Thu Hương, Dương Hồng Tố Quyên, Nguyễn Minh Đức// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 93-98.

Mục đích của nghiên cứu là đánh giá tác dụng của bột chiết sâm Việt Nam trồng 6 tuổi trên tổn thương oxy hóa tế bào não gây bởi stress cô lập. Bột chiết nhân sâm trồng 6 tuổi và majonosid R2 (hoạt chất chính trong sâm Việt Nam) được sử dụng như chất đối chiếu. Kết quả cho thấy stress cô lập gây tổn thương peroxy hóa tế bào não và việc cho uống bột chiết sâm Việt Nam trồng ở 2 liều thử nghiệm 200 mg/kg và 500 mg/kg trong 14 ngày làm giảm hàm lượng malonyl dialdehyd (MDA) trong não 23,5% (p < 0,05), 34,6% (p < 0,05) và hàm lượng glutathion (GSH) trong não tăng 60,6% (p < 0,05), 63,2% (p < 0,05), đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng stress. Bột chiết nhân sâm liều 200 mg/kg, 500 mg/kg trong 14 ngày làm giảm hàm lượng MDA trong não 24% (p < 0,05), 30,4% (p < 0,05) và hàm lượng GSH trong não tăng 110,5% (p < 0,05), 68,6% (p < 0,05), đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng stress. Kết quả nghiên cứu cho thấy bột chiết sâm Việt Nam trồng có tác dụng bảo vệ tế bào não, chống lại sự tổn thương oxy hóa gây bởi stress cô lập.

Từ khóa: 
Sâm Việt Nam trồng, Nhân sâm, Pentobarbital, Stress cô lập, Panax vietnamensis, P.ginseng.

7. Triển khai mô hình gây hội chứng cai morphin trên chuột nhắt trắng và áp dụng đánh giá tác dụng của bài thuốc đông dược/  Nguyễn Thùy Dương, Nguyễn Thu Hằng, Đào Thị Vui// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 98-104.

Nghiên cứu triển khai mô hình gây hội chứng cai thuốc trên chuột nhắt trắng thông qua việc đánh giá các biểu hiện lệ thuộc thuốc về mặt thể chất. Sử dụng ba chế độ liều morphin tăng dần, mỗi ngày dùng 2 lần trong khoảng 3- 4 ngày để gây lệ thuộc. Sau đó, gây hội chứng cai bằng cách tiêm chất đối kháng naloxon 4 mg/kg tiêm màng bụng. Phương pháp gây lệ thuộc bằng chế độ liều morphin tăng dần 30, 45, 90 mg/kg ´ 2 lần/ngày (s.c) trong 4 ngày liên tiếp đã gây được hội chứng cai morphin ở chuột rõ rệt nhất. Các thông số được dùng để đánh giá biểu hiện hội chứng cai bao gồm số lần nhảy, số lần run cơ, số lần khám phá, phần trăm giảm cân nặng, tỉ lệ xuất hiện tiêu chảy và tổng điểm dựa theo thang điểm Gellert-Holtzman. Trên mô hình đã triển khai, bài thuốc đông dược (gồm các vị thuốc đại hoàng, cam thảo, huyền sâm, khang bá bắc, bồ công anh, viễn chí, đào nhân, táo nhân, râu mèo) với liều 1600 mg/lần ´ 2 lần/ngày cải thiện được các thông số tỷ lệ tiêu chảy, phần trăm giảm cân nặng và tổng điểm theo thang Gellert & Holtzman.

Từ khóa: Lệ thuộc morphin, Hội chứng cai morphin, Bài thuốc đông dược.


8.
Tác dụng bảo vệ tế bào thần kinh của hỗn hợp cao chiết từ các dược liệu bạch quả, hoàng kỳ, đan sâm, đương quy so sánh với cao bạch quả trên dòng tế bào NG 108-15/ Trần Việt Hùng, Phạm Thị Nguyệt Hằng// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 104-109.

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ tế bào NG 108-15 của hỗn hợp cao chiết từ các dược liệu bạch quả, hoàng kỳ, đan sâm, đương quy so sánh với cao bạch quả riêng lẻ. Đối chứng dương được dùng trong nghiên cứu này là cao chiết bạch quả. Trong nghiên cứu này, đầu tiên chúng tôi tiến hành thăm dò để lựa chọn được nồng độ H2Ovà nồng độ mẫu nghiên cứu phù hợp. Tiếp theo, chúng tôi đánh giá khả năng bảo vệ tế bào khỏi tổn thương gây bởi H2O2 của mẫu nghiên cứu và cao chiết bạch quả bằng thử nghiệm MTT. Kết quả đã cho thấy cả mẫu nghiên cứu và cao chiết bạch quả với liều từ 10-200 µg/ml đều có tác dụng bảo vệ tế bào khỏi tổn thương gây bởi H2O2, phụ thuộc nồng độ.

Từ khóa: Bảo vệ tế bào thần kinh, NG108-15, Cao chiết bạch quả, hoàng kỳ, đan sâm, đương quy, H2O2, MTT.

9. Khảo sát tác dụng của các bột chiết từ sâm Việt Nam trồng trên sự rút ngắn giấc ngủ pentobarbital gây bởi stress cô lập/ Dương Hồng Tố Quyên, Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Minh Đức// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 109-113.

Sâm Việt Nam (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) với thành phần hóa học chủ yếu là saponin, đặc biệt majonosid R2 là saponin thuộc nhóm occotilol. Trước đây đã có nghiên cứu chứng minh sâm Việt Nam hoang dại cũng như majonosid R2 có tác dụng tăng lực, chống stress, chống trầm cảm, chống oxy hóa, giúp giấc ngủ tốt hơn. Mục đích của nghiên cứu là đánh giá tác dụng của bột chiết cồn 45% từ sâm Việt Nam trồng 6 tuổi trên sự rút ngắn giấc ngủ pentobarbital gây bởi stress cô lập. Đồng thời so sánh tác dụng này với bột chiết cồn 45% từ nhân sâm trồng 6 tuổi. Kết quả cho thấy bột chiết sâm Việt Nam trồng 6 năm tuổi ở ba liều thử nghiệm 50 mg/kg, 100 mg/kg và 200 mg/kg kéo dài thời gian ngủ pentobarbital tương ứng 60,6% với < 0,01, 114,8% (< 0,05) và 32% (< 0,05) so với lô chứng stress. Bột chiết nhân sâm chỉ có liều 50 mg/kg có tác dụng kéo dài thời gian ngủ pentobarbital 61,7% (< 0,05) so với lô chứng stress. Bột chiết nhân sâm liều 100, 200 mg/kg chưa thể hiện tác dụng điển hình.

Từ khóa: Sâm Việt Nam trồng, Nhân sâm, Pentobarbital, Stress cô lập, Panax vietnamensis, P.ginseng.

10. Tác dụng cải thiện trí nhớ trên mô hình gây thiếu máu não cục bộ tạm thời và bước đầu nghiên cứu cơ chế tác dụng của cao cồn rễ đinh lăng/ Phạm Thị Nguyệt Hằng, Nguyễn Minh Khởi// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 113 – 120.

Nghiên cứu này đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của cao cồn rễ đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms) trên mô hình thiếu máu não cục bộ tạm thời bằng mô hình thắt tạm thời 2 động mạch cảnh chung (T2VO), đồng thời bước đầu đánh giá cơ chế tác dụng của cao cồn rễ đinh lăng. Chuột nhắt trắng uống cao chiết cồn rễ đinh lăng với liều tương đương 300 mg dược liệu/kg trước khi tiến hành phẫu thuật gây suy giảm trí nhớ 1 tuần và trong suốt thời gian làm thí nghiệm. Tacrin (liều 2,5 mg/kg; i.p) được sử dụng làm đối chứng dương. Kết quả cho thấy cao chiết cồn rễ đinh lăng có tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ trên mô hình T2VO, được đánh giá bằng thử nghiệm nhận diện đồ vật và thử nghiệm mê lộ chữ Y cải tiến. Mức độ biểu hiện của một số gen liên quan bao gồm gen ChAT, muscarinic M3, M5 (M3, M5) cũng được đánh giá trong nghiên cứu này. Kết quả cho thấy cao cồn rễ đinh lăng (liều tương đương 300 mg dl/kg) có tác dụng tăng biểu hiện gen ChAT và muscarinic M5 so với nhóm chứng bệnh lý (T2VO). Nghiên cứu của chúng tôi đã chứng minh cao chiết cồn rễ đinh lăng với liều tương đương 300 mg dl/kg có tác dụng cải thiện suy giảm trí nhớ thông qua cơ chế tăng cường biểu hiện gen ChAT và muscarinic M5.

Từ khóaT2VO, Cao chiết rễ đinh lăng, Chứng mất trí, Cholin acetyltransferase, Muscarinic M3, -M5, RT-PCR.

11. Đặc điểm thực vật và giải phẫu của cây nho rừng/ Phùng Thanh Long, Đỗ Thị Hà, Hà Vân Oanh, Nguyễn Thị Ngọc Anh, Phạm Thị Thúy, Nguyễn Thị Trang, Lê Việt Dũng, Phạm Thanh Huyền// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 120-123.

Áp dụng phương pháp hình thái và vi học, các dữ liệu về đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu và đặc điểm vi học bột dược liệu của cây nho rừng (Vitis heyneana Roem. & Schult.) đã được mô tả. Loài nho rừng (Vitis heyneana Roem.& Schult.) đặc trưng bởi đặc điểm: Cuống lá và mặt dưới lá phủ lông như tơ nhện màu nâu vàng; vỏ hạt nhẵn, mặt bụng của hạt có hai rãnh dọc. Vi phẫu thân có mô cứng gồm khoảng 10 hàng tế bào, xếp tạo thành hình cung phía trên bó dẫn, từng bó mô dẫn riêng biệt, gồm libe ở phía ngoài và gỗ ở phía trong. Vi phẫu lá có bó mô dẫn gồm libe ở trên và gỗ ở dưới, mô cứng gồm 2-3 hàng tế bào, nằm ngay trên libe. Bột thân có tinh thể calci oxalat hình kim, hình cầu gai và hình khối, hạt tinh bột hình chuông và lông che chở đơn bào. Bột lá có tinh thể calci oxalat hình kim và hình cầu gai, hạt tinh bột đơn hình tròn và lông che chở đơn bào.

Từ khóa: Nho rừng, Vitis heyneanaHình thái, Hiển vi.

12. Đánh giá đặc điểm nông sinh học cây Ban Âu di thực tại Bắc Hà-Lào Cai/ Trần Danh Việt, Đào Văn Núi, Nguyễn Văn Hùng, Lê Đình Phương, Nguyễn Bá Hưng, Trần Thị Kim Dung, Phạm Thanh Huyền// Tạp chí Dược liệu.- Số 2/2017, tập 22, tr 123-128.

Ban Âu (Hypericum perforatum L.) là cây thảo dược có giá trị dược liệu cao, được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là chữa các bệnh về trầm cảm. Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá các đặc điểm nông sinh học. Kết quả nghiên cứu đã đánh giá được đặc điểm hình thái, sinh trưởng, phát triển và năng suất dược liệu, năng suất hạt, hàm lượng hoạt chất cây ban Âu di thực tại Bắc Hà-Lào Cai. Cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo đến khi ra hoa rộ là 219 ngày (thời điểm thu dược liệu tối ưu), thời gian từ gieo đến khi quả chín thu hạt khoảng giữa tháng 8 là 272 ngày, năng suất dược liệu đạt 2,82 tấn/ha, năng suất hạt đạt 460,33kg/ha. Hàm lượng hypericin đạt cao (0,104%) vượt so với tiêu chuẩn dược điển Mỹ USP 34 (0,04%).

Từ khóaBan Âu, Đặc điểm nông sinh học, Hypericum perforatum L.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÁC TIN KHÁC